Lịch sử Giáo xứ Lavang
Một số điểm nổi bật của
Giáo xứ Đức Mẹ Lavang ở Albuquerque
Một Giáo Xứ Không Biên Giới
Nói về Giáo xứ Đức Mẹ Lavang, người ta có thể hình dung đây là một trong năm giáo xứ Việt Nam đầu tiên được phép thành lập và hoạt động trên toàn nước Mỹ.
Ngay từ đầu, các thành viên của giáo xứ đã sống rải rác trên một khu vực rộng 121.598 dặm vuông, chỉ bao gồm 30 gia đình Công giáo và một số nam nữ chưa lập gia đình. Nhà thờ được xây dựng trên khu đất rộng 5 mẫu Anh, tọa lạc tại trung tâm thành phố, ở góc đường Gonzales và Coors.
Đây là nhà thờ duy nhất dành cho tất cả người Công giáo Việt Nam sống tại Tiểu bang New Mexico.
Hãy cùng nhìn lại quá khứ.
Vào năm 1975, khi một số người tị nạn Việt Nam lo sợ sự đàn áp của Cộng sản đến định cư tại New Mexico, họ đã vô cùng kinh ngạc khi thấy một môi trường xa lạ, hoàn toàn khác biệt so với quê hương của họ. Những người dân ở đây thuộc một chủng tộc khác và nói một ngôn ngữ mà họ không thể hiểu được. Họ đã rất thất vọng khi lần đầu tiên tham dự Thánh lễ: họ không thể hiểu một từ nào do linh mục nói. Sau đó, nỗi nhớ về bầu không khí ấm áp và vui tươi mà họ có ở nhà thờ tại quê nhà đã thúc đẩy họ tìm cách đến thờ phượng trong một nhà thờ nơi có thể nói tiếng Việt trong các buổi lễ. Mỗi Chủ Nhật sau thánh lễ, họ tập trung tại Nhà nguyện Perpetual Help, nằm trên đường Bell và Espanola SE, để tìm giải pháp cho vấn đề ngôn ngữ của họ. Địa điểm gặp gỡ của họ sau này được biết đến như là ngã tư quốc tế cho người Việt Nam tại Albuquerque.
Cuối năm 1976, một số gia đình Công giáo Việt Nam sống tại các khu vực Chama và Alcaza đã đến tham dự thánh lễ tại Nhà thờ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Họ đã làm quen với cha John Rebold. Kể từ đó, ngày càng có nhiều người Công giáo Việt Nam đến nhà thờ. Cha John Rebold rất vui mừng, ngài nồng nhiệt chào đón tất cả những người Công giáo Việt Nam di cư và cử hành thánh lễ đặc biệt cho họ vào mỗi Chúa Nhật lúc 4 giờ chiều. Mọi người giờ đây nhận ra rằng việc thờ phượng Chúa bằng tiếng mẹ đẻ là một nhu cầu không chỉ cho riêng ngài mà còn cho thế hệ trẻ, những người cần phải thờ phượng Chúa theo cách truyền thống và văn hóa của tổ tiên mình.
Trừ khi có một linh mục người Việt, họ đã thỏa hiệp bằng cách để một linh mục người Mỹ làm lễ với sự phiên dịch song song của một thông dịch viên người Việt. Thời kỳ này được mọi người coi là thời kỳ trẻ hóa.
Cuối năm 1980, cha John Rebold được điều động đến phụ trách một giáo xứ nhỏ ở Santa Fe, nhiệm vụ của cha tại Nhà thờ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đã kết thúc. Giáo xứ này cách cộng đồng Công giáo Việt Nam sinh sống 60 dặm. Giờ đây, họ đến nhà thờ "Đức Mẹ Fatima", nơi cha John Rebold đồng ý cử hành thánh lễ mỗi Chúa Nhật cho họ.
Năm 1984, một lần nữa cộng đồng Công giáo Việt Nam phải chuyển đến Nhà nguyện "Hiệp sĩ Columbus" nằm trên đường San Mateo để tham dự Thánh lễ hàng tuần. Sự thay đổi này kéo dài khoảng 6 tháng, trong thời gian đó, nhóm thanh thiếu niên rất năng động và nhiệt tình, nhưng họ không trụ được lâu hơn thời gian lưu trú tại "Hiệp sĩ Columbus". Trong khi đó, mỗi Chúa Nhật, kể từ tháng 7 năm 1984, Ủy ban xây dựng nhà thờ Việt Nam chính thức được thành lập và hoạt động để tập hợp nhân lực, công sức và vật liệu nhằm mục đích xây dựng một nhà thờ cho Cộng đồng Công giáo Việt Nam.
Vào tháng 12 năm 1984, nhân dịp lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Đức Tổng Giám mục Santa Fe đã chính thức ký văn kiện thánh hiến việc thành lập nhà thờ Việt Nam mang tên "Đức Mẹ Lavang". Theo sắc lệnh của Tổng Giáo phận ban hành ngày 12 tháng 12 năm 1984, Cha John Rebold được bổ nhiệm làm Cha sở chính thức của nhà thờ.
Năm 1985, ủy ban dự án của nhà thờ bắt đầu vận động gây quỹ. Cộng đồng Công giáo Việt Nam lúc này phải chuyển đến "Nhà ăn Thánh Pius", tức là Trường Cao đẳng Tổng Giáo phận, tọa lạc tại khu vực trên đường Louisiana. Tại đây, tất cả các thành viên trong cộng đồng đều tích cực tham gia vào dự án xây dựng nhà thờ. Giai đoạn này chứng kiến sự ra đời của "Nhóm Thánh Thể" và "Đội Quân Xanh".
Cuối tháng 2 năm 1987, Cha John Rebold được bổ nhiệm làm cha sở Nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê trên phố Broadway. Cộng đồng người Việt đã chuyển đến sống cùng cha tại nơi ở mới trong khi chờ đợi việc xây dựng một nhà thờ Việt Nam do chính Cộng đồng Công giáo Việt Nam thực hiện. Trong thời gian đó, dự án xây dựng đã được tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để hoàn thành về cả hai mặt: tài chính và nhân lực. Một chiến dịch vận động từng nhà và sự hỗ trợ từ các nhà hảo tâm nước ngoài đã mang lại kết quả rất khả quan với nguồn tài chính đáng kể để tiếp tục và hoàn thành việc xây dựng.
Ngày 4 tháng 7 năm 1987, Đức Tổng Giám mục Santa Fe đã chính thức chủ sự lễ khánh thành nhà thờ và cung hiến cho Đức Mẹ Lavang. Thời kỳ lưu vong của người Công giáo Việt Nam nơi đất khách quê người đã kết thúc, mở ra một kỷ nguyên mới cho một Giáo xứ Việt Nam mới. Kể từ đó, với sự mở rộng và phát triển của giáo xứ, số giáo dân đã tăng từ 30 gia đình lên 200 gia đình, trong đó có một số lượng đáng kể những người mới theo đạo. Đây thực sự là một tốc độ tăng trưởng nhanh chóng so với thời gian trôi qua. Lúc này, cha John Rebold bận rộn hơn bao giờ hết, phải đảm nhiệm vai trò mục sư và quản nhiệm nhà thờ mới cùng với cha xứ đương nhiệm. Tuy nhiên, ngài không hề tỏ ra mệt mỏi, ngược lại, ngài rất tích cực trong các hoạt động phúc lợi của người Việt. Tuy nhiên, rào cản ngôn ngữ giữa vị linh mục người Mỹ và giáo dân Việt Nam vẫn không thể vượt qua, đặc biệt là đối với các bậc cao niên người Việt, những người phải sử dụng ngôn ngữ ký hiệu để giao tiếp với linh mục của mình. Việc tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau rất khó khăn. Nhận ra vấn đề. Cha John Rebold đã yêu cầu Tổng Giáo phận bổ nhiệm một linh mục Việt Nam để hỗ trợ ngài trong các công việc của giáo xứ. Sau đó, cha Bùi Đức Phổ được bổ nhiệm làm Phó Giám quản với kỳ vọng sẽ thay thế cha John Rebold khi ngài nghỉ hưu.
Ở đây, tôi muốn kể cho bạn nghe một vài điều đặc biệt về cha của chúng tôi, ông Bùi Đức Phổ.
Ông đến New Mexico dưới sự bảo trợ của cha John Rebold, cựu linh mục của chúng tôi. Ông được thụ phong linh mục trong thời chiến năm 1975 và sau đó được bổ nhiệm làm Cha sở của Giáo xứ Năng Gù thuộc giáo phận Long Xuyên. Trong thời gian này, ông bị chính quyền cộng sản bắt và đưa đến trại cải tạo. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Cha sở của giáo xứ Tân Chu. Cuối năm 1976, ông được bổ nhiệm làm Cha sở của Giáo xứ Thúc Hóa. Vẫn những người Cộng sản cố gắng bắt giữ ông một lần nữa. Vì lòng căm thù của họ, ông đã trốn thoát khỏi Việt Nam. Ông ở lại Thái Lan 3 tháng sau đó được chuyển đến Philippines. Ở cả hai nơi, ông bắt đầu một cuộc sống mới, cống hiến hết mình cho công việc từ thiện, giúp đỡ những người tị nạn Việt Nam trong các trại. Cuối cùng, ông đã chọn Hoa Kỳ làm quê hương thứ hai của mình để tiếp tục sứ mệnh tôn giáo của mình.
Khi đến Mỹ, ông sống ở Houston, Texas, trong 6 tháng và chuyển đến Virginia, nơi ông ở lại một năm trước khi rời đi New Mexico. Ông sống một cuộc sống ẩn dật ở New Mexico, rất ít người biết đến sự hiện diện của ông. Tác giả của kịch bản này (tôi) đã có cơ hội gặp ông thông qua sự giới thiệu của cố vấn giáo xứ của chúng tôi, ông Nguyễn Văn Gương. Thoạt nhìn ông, tôi không thể tin rằng ông là một linh mục, nếu cố vấn Gương không nói với tôi như vậy. Quan sát ông kỹ lưỡng, tôi thấy ông vẫn còn vẻ ngoài của một sinh viên, trẻ trung và năng động, đầy khát vọng. Qua cuộc trò chuyện với ông, tôi nhận ra ông là hiện thân của một người rất kiên quyết và nghiêm nghị, chính trực và trung thực. Phải mất thêm một thời gian nữa tôi mới phát hiện ra rằng ông rất kiên nhẫn và chịu đựng. Ông hòa đồng với mọi người từ mọi tầng lớp xã hội; bên trong ông là một người giàu lòng trắc ẩn và hay quên.
Trong thời gian làm việc với Cha John Rebold, mặc dù không chính thức nhận nhiệm vụ nào, ngài đã hỗ trợ cha John Rebold với tư cách là một người phó trung thành bên cạnh nhiệm vụ của mình tại giáo xứ; ngài tận tâm giúp đỡ những người Việt Nam mới nhập cư ổn định cuộc sống trên vùng đất mới. Ngài làm điều đó mà không hề phân biệt tôn giáo. Ngài khuyến khích những người khác cùng ra sân bay để chào đón những người mới đến và đưa họ về nhà. Ngài lắng nghe những nhu cầu của họ, chia sẻ những lo lắng và niềm vui của họ.
Công việc của ngài đã được Tổng giáo phận công nhận và vào ngày 10 tháng 12 năm 1991, Đức Tổng Giám mục chính thức bổ nhiệm ngài làm Cha phó xứ Đức Mẹ Lavang. Khi số lượng người nhập cư Việt Nam tiếp tục đổ về từ các chương trình HO, ODP….., cha Bùi Đức Phổ được giao trách nhiệm hỗ trợ những người nhập cư Việt Nam mới. Ngài đã lao mình vào công việc mới. Sau CSS, ngài là người cung cấp cho những người mới đến mọi nhu cầu thiết yếu của họ trong cuộc sống mới. Tặng họ đồ nấu nướng, đồ ăn tối, thực phẩm, đồ nội thất và thậm chí cả tem bưu chính, mọi thứ ngài có thể làm, ngài không bao giờ lo lắng. Tôi đã từng có cơ hội đến nhà ngài để làm một số công việc của nhà thờ. Tôi đã rất ngạc nhiên rằng sau những lời chào hỏi thông thường, tôi không được yêu cầu ngồi xuống như thường lệ. Tôi nhìn quanh và phát hiện ra không có một chiếc ghế nào trong phòng. Tôi hỏi tại sao. Ngài nói với tôi rằng ngài vừa tặng món đồ nội thất cuối cùng của mình cho một gia đình mới đến. Cảm động trước tấm lòng hảo tâm vô bờ bến của ông, ngày mai tôi đã mua một số đồ nội thất để thay thế những món đồ ông đã cho đi. Có những lúc người mới đến không được các cơ quan hỗ trợ giúp đỡ, cha Bùi Đức Phổ đã đề nghị cho họ ở nhờ nhà mình cho đến khi họ được giúp đỡ. Cha bận rộn cả ngày với việc giúp đỡ người mới đến tìm nơi trú ẩn, có phiên dịch viên và đưa đón đến các cơ quan dịch vụ nhân sinh, cơ quan an sinh xã hội hoặc bệnh viện. Cho đến nay, cha đã bảo trợ cho 25 gia đình từ Việt Nam và từ các trại tị nạn. Cha kêu gọi mọi người trong giáo xứ tham gia bảo trợ và giúp đỡ người mới đến để họ không cảm thấy cô đơn.
Giờ đây, khi dòng người nhập cư đã chậm lại, ngài tận tụy với công việc của giáo xứ, mở năm lớp Giáo lý Công giáo Cơ bản mới cho thanh thiếu niên và người lớn tại nhà thờ và tại gia đình. Ngài phân công một thành viên người lớn, các thành viên ca đoàn nhà thờ và các trưởng nhóm Thánh Thể.
Tháng 1 năm 1997, cha John Rebold nghỉ hưu. Đức Tổng Giám mục Santa Fe đã bổ nhiệm cha Bùi Đức Phổ làm cha sở giáo xứ để tiếp tục công việc phát triển Nước Chúa và dẫn dắt cộng đồng người Việt tại hải ngoại.
Một dấu hiệu của ơn Chúa ban cho giáo xứ mà không ai trong chúng ta có thể phủ nhận là những thành tựu vẻ vang và rực rỡ mà giáo xứ đã đạt được kể từ ngày chúng ta đến đây. Vào lúc này, hơn bao giờ hết, mỗi người trong giáo xứ chúng ta đều hiểu ý nghĩa của những lời cầu nguyện, tình bạn, sự đoàn kết và quyết tâm biến ngôi nhà thờ mơ ước thành hiện thực. Tất cả những điều đó đã được Chúa ban phước lành. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc xây dựng nhà thờ Đức Mẹ Lavang đã hoàn thành như một phần thưởng cho sự kết hợp của những khó khăn, lo lắng và đau khổ mà tất cả chúng ta đã chịu đựng trong suốt những năm qua. Đây là một bằng chứng cao quý cho thấy giáo xứ chúng ta đã trưởng thành. Mục tiêu, trách nhiệm của chúng ta là hướng dẫn những người trẻ của mình phát triển di sản và theo đuổi các truyền thống của Giáo hội Công giáo Việt Nam trong tương lai.
Năm nay là Năm Thánh 2000, kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lavang và tưởng nhớ giáo xứ chúng ta. Năm nay đánh dấu sự trưởng thành và phát triển của giáo xứ. Cộng đoàn chúng ta đã trải qua 15 năm. Thời gian trôi nhanh; chỉ mới một ngày trước, khi câu chuyện này bắt đầu, chúng ta như một đàn chim lạc đàn tìm đường về tổ, đến từ khắp mọi miền chân trời. Nhưng đàn chim này đã được sinh ra trong một truyền thống anh hùng của nhân loại. Dù ở đâu, tất cả đều cùng chia sẻ một "Cái nôi Văn hóa": đó là "Tình Mẹ Việt Nam", một tình yêu bao la như Thái Bình Dương đã được hiện thực hóa bởi Giáo hội yêu dấu của chúng ta, Giáo hội Đức Mẹ Lavang. Một Giáo hội luôn tỏa sáng với tình yêu thương và lòng trắc ẩn, Mẹ ơi! Mẹ luôn ở đây với chúng con, bất chấp những thay đổi thăng trầm theo thời gian, giữa vinh quang và đau khổ. Mẹ ở đây để mang lại bình an và Đức tin Vĩnh cửu cho tất cả mọi người.
Mẹ ơi! Chúng con hy vọng rằng nhà thờ mang danh Mẹ sẽ không bao giờ trở thành sở hữu của riêng ai. Vì nó thuộc về tất cả những ai đón nhận Giáo xứ Đức Mẹ Lavang làm giáo xứ của riêng mình, một giáo xứ không biên giới.
By Huy Thuan (1999)
